10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA NGÀNH TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NĂM 2011

10 sự kiện nổi bật của ngành tài nguyên môi trường năm 2011
1. Quốc hội thông qua Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Tại kỳ họp thứ 2 (tháng 11/2011), Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 2011- 2015 cấp Quốc gia. Theo đó, phải bảo đảm giữ vững 3,8 triệu ha đất lúa vào năm 2020.
2. Tái lập Tổng cục Địa chất và Khoáng sản. Theo Quyết định 26/2011/QĐ-TTg, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản chính thức tái lập sau 21 năm. Sự kiện này đánh dấu những nỗ lực vượt bậc của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức ngành địa chất trong hơn 65 năm qua. Ngày 01/10/2011, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã chính thức ra mắt.

3. Tổ chức thành công Hội nghị Quan chức cấp cao ASEAN về khoáng sản (ASOMM 11) và Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về khoáng sản (AMMin 3). Hội nghị đã ra Tuyên bố Hà Nội với thông điệp mạnh mẽ về tầm nhìn và quyết tâm hành động của các vị lãnh đạo, đưa ASOMM nhanh chóng trở thành khuôn khổ hợp tác thực chất và hiệu quả về lĩnh vực khoáng sản, góp phần nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.
4. Quốc hội có Nghị quyết Giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề và đưa Chương trình Mục tiêu Quốc gia Khắc phục và Cải thiện ô nhiễm môi trường vào thực hiện giai đoạn 2011 – 2015. Việc Quốc hội giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề và thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia sẽ tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý về môi trường, đồng thời tạo sự đồng bộ trong việc xử lý nguồn gây ô nhiễm và môi trường đang bị ô nhiễm hiện nay.
5. Hồ Ba Bể được công nhận là khu Ramsa. Nhân Ngày Môi trường thế giới 5/6/2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trao Quyết định của Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế). Khu Ramsar Quốc gia Ba Bể có hồ rộng khoảng 500 ha trên độ cao 178 m so với mặt nước biển. Đây là hồ tự nhiên trên núi duy nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam.
6. Lần đầu tiên tại Việt Nam, Lễ kỷ niệm Ngày Nước thế giới 2011 (22/3) với chủ đề “Nước cho phát triển đô thị” do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại tỉnh Ninh Thuận thu hút sự tham gia của hơn 3.000 người. Sự kiện này gây được tiếng vang lớn nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước.
7. Lần đầu tiên, Việt Nam tổ chức thành công Phiên họp Hội đồng lần thứ 17 của Ủy hội Sông Mê Công quốc tế (25 – 26/01/2011). Phiên họp đã thông qua nhiều Văn kiện quan trọng như Quy chế Chất lượng nước, Chiến lược Phát triển lưu vực dựa trên quản lý tổng hợp tài nguyên nước, Kế hoạch Chiến lược và Văn kiện của một số Chương trình then chốt của Ủy hội giai đoạn 2011-2015. Phiên họp có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh Hợp tác Mê Công đang phải đối mặt với những thách thức lớn của biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế và sự gia tăng sử dụng nước, đã định hướng cho một giai đoạn mới của Ủy hội Sông Mê Công quốc tế trong 5 năm tới.
8. Tuần lễ Quốc gia Biển và Hải đảo diễn ra tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa từ 5 đến 8/6/2011. Đây là sự kiện thường niên với quy mô cấp quốc gia nhằm tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tiềm năng của biển và hải đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Lễ khai mạc, lần đầu tiên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc.
9. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011. Chiến lược này xác định rõ tầm nhìn đến năm 2100, Việt Nam phấn đấu trở thành một quốc gia thịnh vượng, văn minh, phát triển bền vững với nền kinh tế cac-bon thấp, ứng phó thành công với biến đổi khí hậu và có vai trò quan trọng trong khu vực và thế giới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng có tầm nhìn “xuyên thế kỷ” trong cuộc chiến lâu dài ứng phó với biến đổi khí hậu.
10. Thành lập Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 19/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1430/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học thứ hai của ngành và là đại học chuyên ngành về lĩnh vực tài nguyên và môi trường trọng điểm phía Nam, đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường trong điều kiện mới.

SUY THOÁI NGUỒN TÀI NGUYÊN TỪ ÁP LỰC PHÁT TRIỂN

Áp lực phát triển đang làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên vùng Trung Trường Sơn – đó là đánh giá của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học-Tổng cục Môi trường thông qua Chương trình trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học, về tổ chức điều tra, khảo sát quá trình phát triển kinh tế-xã hội tại ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
Đây là các địa phương có nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học phong phú thuộc khu vực Trung Trường Sơn. 

Các hoạt động kinh tế-xã hội tại Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế trong 50 năm qua như phát triển thủy điện, mở rộng diện tích cây caosu, khai khoáng và săn bắt động vật, cháy rừng… đã và đang gây áp lực rất lớn đối với diện tích rừng thuộc Dự án Sáng kiến bảo tồn hành lang đa dạng sinh học nơi đây. 

Đặc biệt, hiện ở ba địa phương có tới 86 nhà máy thủy điện với tổng công suất 1.949 MW. Hầu hết hệ thống thủy điện đều nằm tại các huyện miền núi, nơi tập trung các loại rừng phòng hộ hoặc khu bảo tồn thiên nhiên. 

Các công trình xây dựng đập thủy điện dẫn tới mất rừng và ảnh hưởng đến môi trường nước làm tăng thêm nguy cơ đối với các khu rừng, không chỉ xảy ra xung quanh khu vực thi công mà cả diện tích lân cận, nơi tiến hành khảo sát địa hình, địa chất. 

Theo tính toán của các chuyên gia, thu hồi đất để xây dựng thủy điện đòi hỏi phải mất từ 5-7ha cho mỗi 1 MW. Như vậy, tổng số đất phải thu hồi phát triển thủy điện trong thời gian tới ở Quảng Nam sẽ là 4.900ha, Thừa Thiên-Huế 400ha và Quảng Trị 240ha. Do đó, các khu tái định cư cho các hộ dân phải di dời cần nhiều đất hơn nữa, sẽ tác động tiêu cực đến khu vực rừng gần đó, bởi phải cắt bớt diện tích rừng bổ sung cho sản xuất nông nghiệp.

Một trong những áp lực khá lớn nữa đối với tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học tại khu vực Trung Trường Sơn là phát triển diện tích cây caosu đang gia tăng nhanh chóng. 

Trong đó Quảng Trị có 16.289ha, Thừa Thiên-Huế 8.891ha, Quảng Nam 5.996ha và đều tập trung tại các địa bàn trung du và miền núi. 

Theo kế hoạch phát triển đến năm 2015, các trang trại caosu sẽ mở rộng với mục tiêu 20.000ha ở Quảng Trị, 13.000ha ở Quảng Nam và 10.500ha ở Thừa Thiên-Huế. Chưa kể gần 10.000ha cây càphê sẽ hình thành tại những khu đất chưa sử dụng chạy dọc theo đường Hồ Chí Minh. 

Cũng trong 10 năm qua, tổng diện tích rừng bị cháy và khai thác trái phép trên địa bàn ba tỉnh này gần 3.700ha, đang thu hẹp và suy giảm nhanh chóng chất lượng rừng. Đồng thời, hoạt động khai khoáng diễn ra hầu hết mọi nơi trong các huyện của ba tỉnh thuộc Dự án Sáng kiến bảo tồn hành lang đa dạng sinh học nơi đây. 

Tuy nhiên điểm nóng nhất là khai thác vàng trái phép không những gây mất rừng, suy thoái cảnh quan mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và trật tự xã hội, đã trở thành vấn nạn mà chính quyền địa phương khó có thể kiểm soát nổi.

Vì vậy, để giảm áp lực đang đe dọa đến sự suy thoái tài nguyên và đa dạng sinh học tại ba tỉnh nói trên, trước hết các cấp quản lý tại địa phương cần rà soát, điều chỉnh lại kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội bền vững và thân thiện với môi trường; cải tiến phương thức quản lý tài nguyên thiên nhiên theo hướng duy trì ổn định hệ sinh thái, ưu tiên cao nhất cho công tác phục hồi và phát triển rừng.

Mặt khác thực thi các chương trình bảo tồn quy mô lớn, đảm bảo mang lại lợi ích cho cả đa dạng sinh học và người dân địa phương./. 
 

Văn Hào (TTXVN/Vietnam+)

PHÁT TRIỂN NHIÊN LIỆU SINH HỌC VÌ MÔI TRƯỜNG

Trước dự báo trữ lượng dầu khí của Việt Nam chỉ đủ dùng trong 30-40 năm nữa, phát triển nhiên liệu sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đồng thời nâng cao thu nhập của nông dân ở vùng sâu, vùng xa.

>> Thành lập Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học VNTheo Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam, nhiên liệu sinh học (biofuel) là một ngành công nghiệp rất mới mẻ ở Việt Nam nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa quan trọng về phát triển nông thông, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, và hội nhập quốc tế.

Cần chính sách của Chính phủ

Dự báo trữ lượng dầu khí của Việt Nam chỉ đủ dùng trong khoảng 30-40 năm nữa. Bởi vậy nhiên liệu sinh học sẽ giúp bảo đảm trước mắt từ 5-10% lượng xăng tiêu thụ. 

“Phát triển nhiên nhiệu sinh học tại Việt Nam sẽ trở thành ngành thương mại ích nước lợi nhà, là ngành chắc chắn sẽ phải đi trong tương lai”, đại diện Nhà máy Mía đường Lam Sơn chia sẻ.  

Theo ông Nguyễn Phú Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ – Bộ Công thương, việc sử dụng nhiên liệu sinh học giúp đảm bảo đầu ra cho nông sản, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh năng lượng, và giảm nhập siêu.

Sản xuất nhiên liệu sinh học ở trong nước sẽ giảm việc xuất khẩu thô, đồng thời tạo điều kiện ổn định sản xuất nông nghiệp và đảm bảo đời sống nông dân, đặc biệt là nông dân trồng sắn thường là nông dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên khó khăn được ông Lưu Quang Thái, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam, đưa ra là xăng sinh học  tại Việt Nam hiện nay chưa phát triển được do va chạm các lợi ích nhóm. Vấn đề mấu chốt là Chính phủ phải đứng ra làm cha mẹ phân bổ những lợi ích đó.

“Phát triển nhiên liệu sinh học không thể nhanh và bền vững nếu không có các chính sách của Chính phủ mà điều này chỉ có Chính phủ mới làm được”, ông Thái thẳng thắn, “Nếu không có những chích sách của Chính phủ, việc phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam sẽ cực kỳ khó khăn.” 

Khó khăn về giá

Thực hiện đề án của Chính phủ, từ năm 2007 đến 2011, hàng chục doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nhiên liệu sinh học bao gồm nguồn vốn từ các khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Tổng số vốn đầu tư của Hiệp hội là 500 triệu USD và đến năm 2012 năng lượng sản xuất đủ để cung cấp cho xăng E5 (xăng chứa 5% Ethanol) trên cả nước.

Đề cập đến giá, đại diện Bộ Công thương nói thực tế sản phẩm thân thiện môi trường (nhiên liệu sinh học) khó rẻ hơn xăng ô nhiễm (nhiên liệu hóa thạch-E92).

“Nhiên liệu sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, chứ nói về giá thì không thể rẻ hơn nhiên liệu hóa thạch”, ông Cường thẳng thắn. 

Theo vị đại diện từ Hiệp hội, nhiên liệu sinh học phải có giá cạnh tranh thì mới sống nổi, cho nên trước mắt cần có chính sách hỗ trợ ở một giai đoạn nào đó. Còn về trung hạn thì phải có sản phẩm cạnh tranh thì mới nuôi dưỡng, phát triển lâu dài được.

Rõ ràng tiềm năng và cả lợi ích đều thấy rất rõ, tuy nhiên, việc phát triển ngành nhiên liệu sinh học ở Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

“Tôi cho rằng sự ra đời của Hiệp hội là thành công, sẽ hình thành nền công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.” Ông Nguyễn Phú Cường chia sẻ nhân Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam chính thức được thành lập mới đây. 

 

“Bốn năm qua Việt Nam đã đưa vài trăm người đi đào tạo ở các nước và trong nước chuyên ngành nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên để phát triển được, Việt Nam phải có vài nghìn người thì mới đảm bảo được kế hoạch, sản lượng như Chính phủ đã đề ra. Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam sẽ tham gia đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học”, ông Lưu Quang Thái.

 Trong đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2025” được Chính phủ phê duyệt vào năm 2007 nêu rõ: “Đổi mới cơ chế, chính sách về thuế, ưu tiên vay vốn và sử dụng đất đai để hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế đầu tư phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam”.
– Mỹ và  là hai nhà sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, chiếm tỷ lệ lần lượt là 57 và 28%. Các nước tiếp theo là Trung Quốc, Canada, Pháp, Đức, và Tây Ban Nha. 

– Về biodiesel, Châu Âu vẫn đứng đầu với 53% sản lượng toàn cầu trong năm 2010.

–  đang áp dụng chính sách bắt buộc dùng E5 (xăng pha 5% ethanol) và B2 (dầu pha 2% biodiesel). Có bốn tỉnh đã bắt buộc dùng E8.5. 

– Năm 2010, Trung Quốc có chín tỉnh bắt buộc tỷ lệ pha đến E10. 

–  đang bắt buộc dùng E3 và B2.5

– Thái Lan đã bắt buộc dùng E10 và B3 

– Tại Châu Á – Thái Bình Dương, dự kiến đến năm 2020 nhu cầu ethanol vẫn cao hơn cung, do các nước đang từng bước bắt buộc pha từ 5 đến 10% vào xăng. Dự kiến tỷ lệ tiêu thụ biodiesel tại Châu Á – Thái Bình Dương thấp hơn so với ethanol. Năm 2010, biodiesel  chiếm 1,6% tổng tiêu thụ dầu diesel. Tỷ lệ này sẽ tăng lên đến 3,4% vào năm 2015 và 4,7% vào năm 2020.