PHÁT TRIỂN NHIÊN LIỆU SINH HỌC VÌ MÔI TRƯỜNG

Trước dự báo trữ lượng dầu khí của Việt Nam chỉ đủ dùng trong 30-40 năm nữa, phát triển nhiên liệu sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đồng thời nâng cao thu nhập của nông dân ở vùng sâu, vùng xa.

>> Thành lập Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học VNTheo Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam, nhiên liệu sinh học (biofuel) là một ngành công nghiệp rất mới mẻ ở Việt Nam nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa quan trọng về phát triển nông thông, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, và hội nhập quốc tế.

Cần chính sách của Chính phủ

Dự báo trữ lượng dầu khí của Việt Nam chỉ đủ dùng trong khoảng 30-40 năm nữa. Bởi vậy nhiên liệu sinh học sẽ giúp bảo đảm trước mắt từ 5-10% lượng xăng tiêu thụ. 

“Phát triển nhiên nhiệu sinh học tại Việt Nam sẽ trở thành ngành thương mại ích nước lợi nhà, là ngành chắc chắn sẽ phải đi trong tương lai”, đại diện Nhà máy Mía đường Lam Sơn chia sẻ.  

Theo ông Nguyễn Phú Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ – Bộ Công thương, việc sử dụng nhiên liệu sinh học giúp đảm bảo đầu ra cho nông sản, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh năng lượng, và giảm nhập siêu.

Sản xuất nhiên liệu sinh học ở trong nước sẽ giảm việc xuất khẩu thô, đồng thời tạo điều kiện ổn định sản xuất nông nghiệp và đảm bảo đời sống nông dân, đặc biệt là nông dân trồng sắn thường là nông dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên khó khăn được ông Lưu Quang Thái, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam, đưa ra là xăng sinh học  tại Việt Nam hiện nay chưa phát triển được do va chạm các lợi ích nhóm. Vấn đề mấu chốt là Chính phủ phải đứng ra làm cha mẹ phân bổ những lợi ích đó.

“Phát triển nhiên liệu sinh học không thể nhanh và bền vững nếu không có các chính sách của Chính phủ mà điều này chỉ có Chính phủ mới làm được”, ông Thái thẳng thắn, “Nếu không có những chích sách của Chính phủ, việc phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam sẽ cực kỳ khó khăn.” 

Khó khăn về giá

Thực hiện đề án của Chính phủ, từ năm 2007 đến 2011, hàng chục doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nhiên liệu sinh học bao gồm nguồn vốn từ các khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Tổng số vốn đầu tư của Hiệp hội là 500 triệu USD và đến năm 2012 năng lượng sản xuất đủ để cung cấp cho xăng E5 (xăng chứa 5% Ethanol) trên cả nước.

Đề cập đến giá, đại diện Bộ Công thương nói thực tế sản phẩm thân thiện môi trường (nhiên liệu sinh học) khó rẻ hơn xăng ô nhiễm (nhiên liệu hóa thạch-E92).

“Nhiên liệu sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, chứ nói về giá thì không thể rẻ hơn nhiên liệu hóa thạch”, ông Cường thẳng thắn. 

Theo vị đại diện từ Hiệp hội, nhiên liệu sinh học phải có giá cạnh tranh thì mới sống nổi, cho nên trước mắt cần có chính sách hỗ trợ ở một giai đoạn nào đó. Còn về trung hạn thì phải có sản phẩm cạnh tranh thì mới nuôi dưỡng, phát triển lâu dài được.

Rõ ràng tiềm năng và cả lợi ích đều thấy rất rõ, tuy nhiên, việc phát triển ngành nhiên liệu sinh học ở Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

“Tôi cho rằng sự ra đời của Hiệp hội là thành công, sẽ hình thành nền công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.” Ông Nguyễn Phú Cường chia sẻ nhân Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam chính thức được thành lập mới đây. 

 

“Bốn năm qua Việt Nam đã đưa vài trăm người đi đào tạo ở các nước và trong nước chuyên ngành nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên để phát triển được, Việt Nam phải có vài nghìn người thì mới đảm bảo được kế hoạch, sản lượng như Chính phủ đã đề ra. Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam sẽ tham gia đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học”, ông Lưu Quang Thái.

 Trong đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2025” được Chính phủ phê duyệt vào năm 2007 nêu rõ: “Đổi mới cơ chế, chính sách về thuế, ưu tiên vay vốn và sử dụng đất đai để hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế đầu tư phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam”.
– Mỹ và  là hai nhà sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, chiếm tỷ lệ lần lượt là 57 và 28%. Các nước tiếp theo là Trung Quốc, Canada, Pháp, Đức, và Tây Ban Nha. 

– Về biodiesel, Châu Âu vẫn đứng đầu với 53% sản lượng toàn cầu trong năm 2010.

–  đang áp dụng chính sách bắt buộc dùng E5 (xăng pha 5% ethanol) và B2 (dầu pha 2% biodiesel). Có bốn tỉnh đã bắt buộc dùng E8.5. 

– Năm 2010, Trung Quốc có chín tỉnh bắt buộc tỷ lệ pha đến E10. 

–  đang bắt buộc dùng E3 và B2.5

– Thái Lan đã bắt buộc dùng E10 và B3 

– Tại Châu Á – Thái Bình Dương, dự kiến đến năm 2020 nhu cầu ethanol vẫn cao hơn cung, do các nước đang từng bước bắt buộc pha từ 5 đến 10% vào xăng. Dự kiến tỷ lệ tiêu thụ biodiesel tại Châu Á – Thái Bình Dương thấp hơn so với ethanol. Năm 2010, biodiesel  chiếm 1,6% tổng tiêu thụ dầu diesel. Tỷ lệ này sẽ tăng lên đến 3,4% vào năm 2015 và 4,7% vào năm 2020.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *