O NHIEM MOI TRUONG, KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

ô nhiễm môi trường, Hãy Bảo vệ môi trường  

 

Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề đáng lo ngại không những đối với các nước phát triển mà còn là sự thách thức đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Nước thải chưa qua xử lý đổ vào sông là tình trạng phổ biến ở các đô thị, nghiêm trọng nhất là ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. ở Hà Nội, 62 cơ sở giết mổ gia súc (37 cơ sở giết mổ lợn, còn lại là giết mổ trâu, bò) dù đã có đầu tư nâng cấp nhà xưởng, bể chứa và đường ống nước, nhưng vẫn không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đều giết mổ thủ công. Chất thải từ quá trình giết mổ ở các cơ sở tư nhân đều chảy thẳng ra cống thoát nước thành phố, bể phốt là thứ hiếm hoi ở các lò mổ này. Vì thế, dù được nhân viên thú y kiểm dịch, không thể đảm bảo thịt đưa ra thị trường đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực chất các lò mổ này hiện nay chỉ là điểm “thu gom” các lò mổ tự phát, nhỏ lẻ để cơ quan thú y dễ kiểm dịch hơn mà thôi. Bỏ ra hơn 5 tỷ đồng để đầu tư cho mỗi lò mổ hiện đại được “cơ giới hoá” là điều mới nằmvtrong “kế hoạch”. Tình trạng ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng tương tự.
Lò mổ “tự phát” tại nông thôn thì sao? Làng nào cũng có vài hộ gia đình làm nghề. Tất nhiên, nước thải từ giết mổ thường chảy xuống ao, xuống sông như mọi loại nước thải sinh hoạt khác. Ao vẫn là nơi rửa bát, rửa rau, giặt chăn, chiếu ở nhiều vùng nông thôn, thậm chí có nơi còn sử dụng làm nước ăn, uống. Thuốc trừ sâu bị sử dụng bừa bãi, các loại bao bì đựng thuốc trừ sâu vương vãi bên bờ ruộng, cạnh đường làng…

Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sulfure, cacbonic, nitrit, ô nhiễm chì (Pb), chất thải rắn (trong sinh hoạt, bệnh viện). Các nơi bị ô nhiễm nặng nhất là khu dân cư gần nhà máy, KCN… ở một số khu dân cư gần các KCN nồng độ khí sulffure vượt chỉ số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Tính trung bình lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra ở các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) từ 0,6 – 0,8 kg/người/ngày, chất thải rắn trong bệnh viện (cơ sở y tế) được thải ra ước tính từ 50-70 tấn/ngày. Chất thải rắn này ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đô thị… Hiện nay, khả năng thu gom chất thải rắn còn rất thấp so với yêu cầu đặt ra. Tại nhiều thị xã, tỷ lệ thu gom chất thải rắn trung bình chỉ đạt 20-40%. Biện pháp thu gom chất thải rắn hiện nay chủ yếu là chôn lấp.
Theo thống kê, Việt Nam có trên 800.000 cơ sở sản xuất công nghiệp với gần 70 KCX-KCN tập trung, trong đó, khoảng 90% cơ sở sản xuất công nghiệp và phần lớn các KCN chưa có trạm xử lý nước thải. Các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nặng nhất là công nghiệp nhiệt điện, công nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, với sự phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống được nâng cao, lượng chất thải rắn tạo ra cũng sẽ tăng tương ứng. Lấy ví dụ, tính từ năm 2000 đến năm 2003, tỉ lệ chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội tăng 9%. Nếu tỉ lệ này tăng liên tục, thì lượng chất thải rắn ước tính khoảng 1 kg/ngày/người vào cuối thập kỷ này tương đương với các thành phố lớn của Châu á. Đây sẽ trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với môi trường.
Hiện nay, Thành phố Hà Nội có khoảng 620.000 tấn rác thải các loại mỗi năm, trong đó khoảng 500.000 tấn được đổ tại bãi rác Nam Sơn, cách Thành phố Hà Nội khoảng 65km. Mặc dù bãi rác này được quản lý tương đối tốt nhưng vấn đề về nước rác vẫn đang là vấn đề bức xúc cần phải giải quyết. Bên cạnh đó, sự tăng đáng kể khối lượng rác hàng năm dẫn đến tình trạng quá tải tại các bãi chôn lấp. Hiện nay, Hà Nội có 05 bãi chôn lấp nhưng chỉ có bãi rác Nam Sơn và bãi Lâm Du đang hoạt động, trong đó bãi rác Lâm Du chủ yếu dùng để chôn lấp rác xây dựng.

TĂNG KIỂM SOÁT Ô NHIỄM KHU VỰC ĐÔNG DÂN NGHÈO

Ngày 8/12, Hội nghị tổng kết Hợp phần “Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo (PCDA)” đã diễn ra tại Hà Nội.

 

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Trưởng ban chỉ đạo Dự án PCDA Bùi Cách Tuyến đánh giá qua hơn 5 năm triển khai (từ 2005 đến nay), PCDA đã đạt được hầu hết các mục tiêu đề ra, hiệu quả rõ rệt trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với 4 địa phương được lựa chọn để triển khai dự án. 

Cụ thể, PCDA đã tổ chức 33 khóa đào tạo, tập huấn cho 1.700 lượt cán bộ thuộc các cơ quan quản lý môi trường; 113 Hội thảo phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ môi trường cho trên 11.000 lượt cán bộ cấp xã và cộng đồng. Dưới sự hỗ trợ của PCDA, 28 văn bản quy phạm pháp luật cấp Trung ương, 18 quyết định hành chính cấp địa phương đã được xây dựng và ban hành và 55 tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về công tác kiểm soát ô nhiễm (KSON), quản lý môi trường đã được xây dựng và ấn phẩm.

Với mục tiêu nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở tại các khu vực đông dân nghèo thông qua nâng cao nhận thức và thúc đẩy tham gia cộng đồng, nội dung hoạt động của PCDA được tất cả các cơ quan thành viên dự án đánh giá là rộng rãi, bao trùm, hướng tới tất cả các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng cấp cơ sở. 

Được sự hỗ trợ của PCDA, cả 4 tỉnh tham gia Hợp phần đã xây dựng Kế hoạch hành động kiểm soát ô nhiễm môi trường cấp tỉnh, dựa vào Khung Kế hoạch hành động KSON. Bên cạnh đó, PCDA còn giúp tạo dựng được mối quan hệ phối hợp trong công tác giữa sở tài nguyên và môi trường các tỉnh với các sở, ban, ngành khác, các huyện, thị và cộng đồng dân cư trong các khâu từ lập kế hoạch bảo vệ môi trường, phân bổ kinh phí và thực hiện dự án. 

Tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa bàn triển khai dự án, đã xây dựng và ban hành nhiều quy định về quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường. 

Năm 2010, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp các sở, ban, ngành trong tỉnh đã xây dựng Quy hoạch bảo vệ môi trường của tỉnh giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến 2020, trong đó đã lồng ghép nội dung Kế hoạch hành động kiểm soát ô nhiễm. 

Hiện nay, ngành đang thực hiện một số đề án bảo vệ môi trường khác như trong nông nghiệp và nông thôn, trong ngành khai thác khoáng sản, kế hoạch bảo vệ sông Cầu, kế hoạch đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu, truyền thông bảo vệ môi trường… Đối với tỉnh Hà Nam, Đảng bộ tỉnh đã ra Nghị quyết trong đó nhấn mạnh từ nay đến năm 2015, có 95% rác thành phố và 50% rác nông thôn phải được xử lý, 95% số xã có nhà máy nước sạch hợp vệ sinh. 

Hợp phần “Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo (PCDA)” là một trong 5 hợp phần của Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam-Đan Mạch (DCE), trong lĩnh vực môi trường với mục tiêu dài hạn là “Cải thiện chất lượng môi trường ở các vùng tập trung đông dân nghèo, duy trì ở các mức độ có thể chấp nhận được” và 3 mục tiêu trước mắt là: Xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật; Công cụ pháp lý và Kiến thức chuyên môn được cung cấp từ cấp Trung ương để thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm. 

Bên cạnh việc tăng cường năng lực kiểm soát ô nhiễm chung cho hệ thống cơ quan quản lý ở cấp Trung ương và cấp tỉnh trên phạm vi toàn quốc, các hoạt động của Hợp phần được tập trung triển khai ở 4 trong 6 tỉnh thuộc Chương trình DCE là Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng Nam, Bến Tre./.

Thu Phương

TĂNG RANK ALEXA ĐƠN GIẢN HIỆU QUẢ MÀ NHANH NHẤT

cách tăng rank thì có rất nhiều cách Chỉ cần biết vận dụng tất cả các cái này mình post lên cho bạn tham khảo nha

1: trong forum của bạn có những nội dung mà cộng đồng đang cần đến (vd cách tang rank hiệu quả nhất…v.v)
Một nội dung hay nào đó mà có được các liên kiến đến từ những site lớn khác sẽ tạo cho site của bạn có sự tăng traffic
2: forum của bạn phải load nhanh, skin đẹp để mọi người cảm hài lòng với forum của bạn
3: dựa vào ddos của mình 
4: nếu nhà bạn có tiện net thì đặt thanh công cụ, và trang chủ đều là forum của bạn
5: bạn nên thường xuyên post các bài viết đc xem nhiều
6: có thể thuê thành viên viết bài
7: phải biết lợi dụng các web, forum lớn 
post hình girl xinh lên các trang lớn như vn-zoom…1 ngày có tới vài ngàn lượt cljck… và nhớ kèm theo url của bạn
yahoo khi trả lời yahoo ý thì kèm theo cái link forum của bạn bên dưới
8: sủ dụng iframe để tăng rank alexa 
9: sử dụng trang này để tăng rank http://www.alexa.com/siteowners/claim
10: dùng cái này http://www.kakavip.net/proxy/index.php
Mục URL nhập tên website bạn, mục dưới bạn click thêm Hủy bỏ Cookie, rui CHọn browse, khi vao đc đc site rùi thì bạn chỉ cần nhấn F5 ,
thay IP cho nhanh, dạng spam
11: Đặt Alexa rank widget trên website
12: mời bạn bè vào forum của bạn
13: Sử dụng Alexa Ridirect http://redirect.alexa.com/redirect?www.buyer.com.vn
14: Tối ưu hóa các bài viết
15: bạn nên có một mục là tăng rank , Alexa trên forum của bạn để thu hút ruồi muỗi ^^
16: Tăng nhanh thứ hạng . Tăng hạng trên Alexa. Tăng page rank trên google?
Dùng cái này đi http://hits.checkdomain.vn/?r=58498
17: dùng từ khóa 
<meta name=”keywords” content=”Indochina, Vietnam, Laos, Cambodia, Thailand, Vietnam tours, laos tours, cambodia tours, thailand tours, customized tours, customised tours, customised tours, tailor made travel, discovery,travel, tour, tours, hotels, hotel, holiday, luxury, adventure, packages, vacation” /><meta name=”description” content=”Customized, privately guided tours, group travel &amp; volunteer holidays in Vietnam, Cambodia, Laos, Responsible travel operator.” />

SIÊU CÔNG NGHỆ CHỐNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Nạn ô nhiễm là “sản phẩm phụ” mà con người tạo ra trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Sự ô nhiễm có thể chỉ đơn giản như tiếng còi xe ban đêm của người hàng xóm phá hỏng giấc ngủ của bạn, hoặc nó xảy ra ở mức độ vĩ mô như việc thải các khí fluorocarbon vào bầu khí quyển làm tổn hại đến tầng ozone, gây nên hiện tượng ấm lên toàn cầu. Việc mất kiểm soát đối với vấn nạn ô nhiễm có thể dẫn đến việc phá hủy môi trường tự nhiên trên Trái đất.

Trong nhiều thế kỷ qua, các nhà khoa học đã cất công tìm kiếm giải pháp để đối phó với vấn nạn ô nhiễm môi trường. Tạp chí Discovery giới thiệu 5 công nghệ mới đang được phát triển, có thể giúp chúng ta giải quyết hiệu quả tình trạng ô nhiễm trong tương lai.


Ô nhiễm nước

 

 
Túi nano lọc nước (ảnh trên) và ống LifeStraw

Trên thế giới hiện nay, cứ khoảng 3 người thì có 1 người thiếu nguồn nước uống sạch. Nguyên nhân là do lượng mưa ngày càng ít, hoặc do những khó khăn trong việc vận chuyển nước từ sông hồ đến khu dân cư, hoặc là do nguồn nước bị ô nhiễm. Việc uống phải nước bị ô nhiễm có thể gây nhiều bệnh nguy hiểm như dịch tả hay kiết lỵ.

Công nghệ nano – công nghệ xử lý vật chất ở cấp độ phân tử – hứa hẹn nhiều triển vọng trong việc làm sạch nước. Công ty Marelize Botes ở Nam Phi đã phát triển thành công mẫu túi lọc nước có hình dáng tương tự một gói trà túi lọc; chiếc túi này được làm từ sợi nano đã được xử lý qua quá trình dioxid để có khả năng diệt khuẩn, bên trong túi chứa đầy hạt than hoạt tính có khả năng hấp thụ cặn bẩn trong nước. Một thiết bị lọc nước khác là LifeStraw được công ty Thụy Điển Vestergaard Frandsen thiết kế và chế tạo năm 2005 đã được phổ biến rộng rãi và phát huy hiệu quả vô cùng cao. Giá cho mỗi chiếc LifeStraw chỉ khoảng 3 đô-la, hơn nữa nó rất dễ sử dụng, một em bé 3 tuổi cũng có thể dùng ống LifeStraw để uống nước trực tiếp từ nguồn nước mà không sợ bị nhiễm khuẩn.

Ô nhiễm không khí

Một “siêu cây” 

Năm 2009 các nhà khoa học đã đưa ra kết luận rằng việc hít thở không khí ô nhiễm trước khi sinh sẽ làm giảm chỉ số IQ sau này. Các nghiên cứu đã cho thấy những đứa trẻ thường xuyên ở trong môi trường có không khí ô nhiễm thì điểm số IQ thấp hơn khoảng 5 điểm so với những trẻ ít tiếp xúc với không khí ô nhiễm hơn.

Ở thủ đô Lima của Peru, nơi không khí đang bị ô nhiễm nặng nề, người ta đã cho lắp đặt những “siêu cây” do hãng Tierra Nuestra sản xuất ở vài khu vực xung quanh thành phố. Đây là thiết bị có khả năng bắt chước cơ chế hô hấp của 1 cái cây thực, có nghĩa rằng nó có thể hấp thụ khí CO2 và thải ra khí O2. Không khí ô nhiễm sau khi đi vào hệ thống này sẽ được chạy qua một hệ thống lọc bằng nước để loại bỏ khí CO2 cũng như một vài loại vi khuẩn. Một “siêu cây” có thể làm sạch khoảng 200.000 mét khối không khí một ngày – tương đương công suất của 6 cây thật – với giá thành đầu tư ban đầu khoảng 100.000 đô-la.

Ô nhiễm đất  

Hãy bảo vệ và gìn giữ môi trường trong sạch, cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau.

Mỗi ngày con người thải ra hàng tấn rác thải trong quá trình sinh hoạt. Khi được đổ đống ở những bãi rác, những chất thải rắn này sẽ phân hủy và làm nhiễm bẩn đất đai, nước ngầm trong khu vực; và tệ hơn nữa là có những chất thải không phân hủy mà cứ nằm đó hàng nhiều thế kỷ. Vì lý do đó mà các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều công nghệ xử lý rác thải giúp giải quyết vấn đề.

Tại Đại học Dublin, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một loại vi khuẩn không những có khả năng tiêu hóa bọt chất dẻo mà còn có thể chuyển hóa nó thành một loại chất dẻo có thể tái sử dụng. Đầu tiên chất dẻo này phải được nấu chảy trong điều kiện không có oxy, sau đó chuyển thành dầu styren. Vi khuẩn sẽ ăn hợp chất này và thải ra PHA – một loại chất dẻo có thể tự phân hủy.

Một vài công nghệ khác giúp chúng ta xử lý vấn nạn rác thải điện tử đang gây đau đầu nhiều nhà chức trách hiện nay. Công nghệ mới hướng tới việc sản xuất các loại điện thoại di động bằng các loại vật liệu có thể tái chế; hay các khoa học gia Trung Quốc đã tìm được cách tái sử dụng các chất keo dán và nhựa cây từ bảng mạch của những chiếc máy tính cũ để chế tạo hàng rào hay ghế ngồi trong công viên.

Ô nhiễm ánh sáng 

Sử dụng ánh sáng bừa bãi vào ban đêm vừa gây lãng phí vừa có hại cho sức khỏe

Trước đây, theo lẽ tự nhiên thì con người sẽ dừng các hoạt động sản xuất khi màn đêm buông xuống, nhưng khoảng 1 thế kỷ trở lại đây, cuộc sống của con người có thể diễn ra cả ngày lẫn đêm, suốt 24 tiếng trong cả 7 ngày. Mặc dù việc kéo dài thời gian hoạt động này giúp tăng năng suất sản xuất hàng hóa và thêm thời gian cho các hoạt động giải trí khác, tuy nhiên việc sử dụng ánh sáng bừa bãi có thể gây tổn hại lớn đến sức khỏe như làm thay đổi nhịp sinh học, gây ra chứng khó ngủ hoặc mất ngủ, hơn nữa việc sử dụng ánh sáng không khoa học còn có thể phá hoại các hệ sinh thái.

Một giải pháp nhiều hứa hẹn cho vấn đề này là sử dụng đèn thông minh như mẫu đèn BetaLED được một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học California-Davis phát triển. Hiện được sử dụng tại các bãi đỗ xe, mẫu đèn này có một công tắc đặc biệt có thể tự chuyển đổi cường độ ánh sáng yếu/mạnh khi có chuyển động trong bãi xe nhờ vào một thiết bị cảm biến chuyển động. Công nghệ mới này giúp tiết kiệm đến 75% lượng điện tiêu thụ so với kiểu đèn thông thường.

Ô nhiễm tiếng ồn

Ô nhiễm tiếng ồn gây nhiều tổn hại cho sức khỏe 

Đơn vị đo tiếng ồn là Décibel.
– 10-20 dB: Gió vi vu qua lá cây được xem là trạng thái yên tỉnh
– 30 dB: Thì thầm (trong phòng ngủ)
– 40 dB: Tiếng nói chuyện bình thường
– 50 dB: Tiếng máy giặt, ồn ở siêu thị, có gây phiền nhưng còn chịu được
– 55 dB -80 dB: Động cơ xe hơi, xe máy, gây khó chịu, mệt mỏi
– 80 dB – 85 dB: Máy cắt cỏ, hút bụi, cắt gỗ, làm rất khó chịu
– 90 dB – 100 dB: phát ra ở Công trường xây dựng, ồn ở mức nguy hiểm
– 120dB – 140 dB: Máy bay lúc cất cánh, ồn quá lớn gây tổn thương tâm trí

Ô nhiễm tiếng ồn là hiện tượng đáng lưu ý trong thời đại ngày nay, nhất là ở nước đang phát triển, chưa đạt tới trình độ văn minh cần thiết trong nếp sống. Tiếng ồn là một tác nhân liên quan đến mọi người, già hay trẻ, đi ra đường hay ở nhà, hoặc đến nơi làm việc… Ô nhiểm tiếng ồn có hại cho sức khoẻ. Tiếng ồn còn có thể là một trong những nguyên nhân làm tăng hiện tượng bạo lực trong giao tiếp.

Hiện tại, cách giải quyết loại ô nhiễm đặc biệt này nằm ở các cơ quan có chức năng quản lý xã hội. Cần đưa ra những quy dinh nhằm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm tiếng ồn trên đường phố (không cho lạm dụng còi xe; không cho các loại xe cũ nát, động cơ kêu to và xả nhiều khói được lưu hành); ở thành phố và nhất là trong những chung cư, không được làm ồn sau 10 giờ đêm; không cho dùng các loa phát thanh công suất lớn để thông tin trên đường phố; hạn chế những tiếng ồn phát ra từ các nhà hàng, vũ trường… nhất là về ban đêm…

Cao Nguyên (Tổng hợp)- vietnamnet.vn

NƯỚC SẠCH CHO CÁC “LÀNG UNG THƯ” Ở VIỆT NAM

Hậu quả của những năm chiến tranh và tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước đã kéo theo sự gia tăng dân số, đô thị hóa, tạo sự đan xen giữa các khu vực tập trung dân cư với các nhà máy, xí nghiệp mà quá trình hoạt động phải thường xuyên sử dụng các vật tư, nguyên liệu, hóa chất tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, hoặc xả ra các chất độc hại gây ô nhiễm nguồn nước như kim loại nặng, dioxin, DDT..
.Tình trạng này đã và đang ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư khi sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Không ít nơi trên các vùng miền cả nước đã xuất hiện tình trạng hàng loạt người dân sinh sống trong một khu vực bị tử vong do căn bệnh ung thư (thường gọi là “làng ung thư”). Hiện cả nước tồn tại 37 làng ung thư mà một trong những nguyên nhân là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.
 Tại diễn đàn sức khỏe môi trường do Bộ TN&MT, Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội, đã xác nhận: “Hiện cả nước đã xuất hiện một số “làng ung thư” tại Phú Thọ, Hải Phòng, Hà Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi… là biểu hiện đáng lo ngại và nguy cơ tiềm ẩn liên quan giữa sức khỏe và môi trường”. Theo khảo sát của Bệnh viện K, trong 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hiện, khoảng 70.000 người bị chết vì căn bệnh này, tăng hơn  nhiều so với trước đây. Công văn của 17 tỉnh thành phố đã gửi về Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (QHĐTTNN); Diễn đàn sức khỏe môi trường do Bộ TN&MT và Bộ Y tế tổ chức cho thấy: Việc điều tra nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống sinh hoạt bị ô nhiễm tại các “làng ung thư” là rất cấp thiết. Đó là xuất phát điểm của dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số “làng ung thư” của Việt Nam do Trung tâm QH &ĐTTNN chủ trì thực hiện với sự phối hợp của 3 Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Trung, miền Bắc và miền Nam.
  Báo TN&MT đã có cuộc phỏng vấn ông Hồ Minh Thọ, Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH &ĐTTN miền Trung, Chủ nhiệm Dự án:
 Thưa ông, các nội dung cơ bản, mục tiêu cụ thể cũng như tiến trình thực hiện Dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số làng ung thư được đề ra như thế nào ?
 Ông Hồ Minh Thọ: Nội dung cơ bản của dự án là điều tra, đánh giá hiện trạng chất lượng các nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt tại các “làng ung thư”. Xác định số lượng các “làng ung thư” có nguồn nước bị ô nhiễm. Từ đó lựa chọn một số “làng ung thư” bức thiết nhất về ô nhiễm nguồn nước đang sử dụng để tiến hành điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh theo các quy chuẩn của Bộ Y tế, phục vụ cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt tại các “làng ung thư” đó.
Dự án được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn I (2011): Xác định các “làng ung thư” có nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt bị ô nhiễm, các khu cấm khai thác nguồn nước cho ăn uống sinh hoạt. Giai đoạn II (2012- 2013): Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước cho ăn uống sinh hoạt tại các “làng ung thư” cấp thiết nhất (ở đó có nguồn nước đang sử dụng bị ô nhiễm).      
 Mục tiêu giai đoạn 1 của Dự án là đánh giá hiện trạng các “làng ung thư” và chất lượng các nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt và số lượng các làng ung thư có nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt bị ô nhiễm. Theo nội dung chi tiết của dự án được phê duyệt, để giải quyết mục tiêu của giai đoạn I, mỗi “làng ung thư” cần tiến hành các dạng công tác: Điều tra, thu thập các loại tài liệu như hiện trạng bệnh ung thư, hiện trạng điều tra, đánh giá và khai thác sử dụng các nguồn nước, hiện trạng xả thải; Phân tích, chỉnh lí tổng hợp các loại tài liệu đã thu thập; Khảo sát, điều tra, đánh giá chất lượng nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt; Lấy và phân tích các loại mẫu nước; Làm công tác trắc địa công trình; Tổng hợp, chỉnh lý tài liệu, lập báo cáo giai đoạn điều tra.
Toàn dự án được duyệt sẽ tiến hành điều tra 37 “làng ung thư” trên toàn quốc. Năm 2011 tiến hành điều tra 23 làng thuộc 10 tỉnh, thành phố gồm: Phú Thọ (2 làng), Hưng Yên (1); Bắc Ninh (1), Thanh Hóa (1), Hà Nam (1), Hà Nội (2), Hà Tĩnh (3), Nghệ An (5), Quảng Trị (3); Quảng Nam (4).

Kết quả triển khai thực hiện giai đoạn 1 (năm 2011) của Dự án được đánh giá như thế nào? Đặc biệt là khả năng tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các “làng ung thư”, thưa ông?
 Ông Hồ Minh Thọ:Từ kết quả điều tra, khảo sát thực địa, lấy và phân tích các loại mẫu nước của 23 “làng ung thư” năm 2011 có thể đánh giá: Diễn biến của bệnh ung thư qua các năm tại các “làng” điều tra là rất phức tạp; tuy nhiên hầu hết đều có sự trùng hợp về nguồn nước bị ô nhiễm (mặc dầu trong vài năm gần đây một vài vùng điều tra mới có nước sạch được cung cấp tập trung) trong đó nguồn nước bi ô nhiễm điển hình là các “làng ung thư” Mẫn Xá (Bắc Ninh), Thạch Sơn (Phú Thọ), Phong Yên, Cờ Đỏ, Đức Thành (Nghệ An), Xuyên Tây, Đại An, Thôn 3-4 (Quảng Nam), Thổ Vị (Thanh Hóa), Kẻ Đọng, Đá Dong (Hà Tĩnh), An Bình, Trung Chỉ, Thành Lê (Quảng Trị).
Về khả năng tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các “làng ung thư” cho thấy: Trong phạm vi các vùng điều tra bao gồm 23 “làng ung thư” thì vùng thì vùng Tiên An (Quảng Nam) là khó khăn hơn cả do vùng này không có nguồn nước triển vọng, các nguồn nước có thể bị ảnh hưởng lớn từ mỏ quặng Uranium. Các vùng Mẫn Xá (Bắc Ninh), Thạch Sơn (Phú Thọ), An Thổ, Đại An, Xuyên Tây (Quảng Nam), Đồng Mai (Hưng Yên), Yên Lão (Hà Nam), An Bình (Quảng Trị) hầu hết đã có các công trình cấp nước tập trung của các nhà máy nước do địa phương xây dựng nên việc tìm kiếm nguồn nước cho các vùng này không thật sự cấp thiết.
 Với kết quả điều tra 23 “làng ung thư giai” đoạn I, có thể đề nghị giai đoạn 2 của dự án (2012-2013) tiếp tục công tác điều tra 11 “làng ung thư” là: Phong Yên, Cờ Đỏ, Đức Thành (Nghệ An), Khu 8-11 (Phú Thọ), Thôn 3-4 Tiên An và Đại An (Quảng Nam), Thổ Vị (Thanh Hóa), Lũng Vỵ (Hà Nội), An Lộc và Kẻ Đọng (Hà Tĩnh), Thanh Lê (Quảng Trị). Trên cơ sở đó, tiến hành điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước cho ăn uống sinh hoạt tại các “làng ung thư” cấp thiết nhất.
 Xin trân trọng cám ơn ông!

10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA NGÀNH TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NĂM 2011

10 sự kiện nổi bật của ngành tài nguyên môi trường năm 2011
1. Quốc hội thông qua Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Tại kỳ họp thứ 2 (tháng 11/2011), Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 2011- 2015 cấp Quốc gia. Theo đó, phải bảo đảm giữ vững 3,8 triệu ha đất lúa vào năm 2020.
2. Tái lập Tổng cục Địa chất và Khoáng sản. Theo Quyết định 26/2011/QĐ-TTg, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản chính thức tái lập sau 21 năm. Sự kiện này đánh dấu những nỗ lực vượt bậc của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức ngành địa chất trong hơn 65 năm qua. Ngày 01/10/2011, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã chính thức ra mắt.

3. Tổ chức thành công Hội nghị Quan chức cấp cao ASEAN về khoáng sản (ASOMM 11) và Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về khoáng sản (AMMin 3). Hội nghị đã ra Tuyên bố Hà Nội với thông điệp mạnh mẽ về tầm nhìn và quyết tâm hành động của các vị lãnh đạo, đưa ASOMM nhanh chóng trở thành khuôn khổ hợp tác thực chất và hiệu quả về lĩnh vực khoáng sản, góp phần nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.
4. Quốc hội có Nghị quyết Giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề và đưa Chương trình Mục tiêu Quốc gia Khắc phục và Cải thiện ô nhiễm môi trường vào thực hiện giai đoạn 2011 – 2015. Việc Quốc hội giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề và thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia sẽ tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý về môi trường, đồng thời tạo sự đồng bộ trong việc xử lý nguồn gây ô nhiễm và môi trường đang bị ô nhiễm hiện nay.
5. Hồ Ba Bể được công nhận là khu Ramsa. Nhân Ngày Môi trường thế giới 5/6/2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trao Quyết định của Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế). Khu Ramsar Quốc gia Ba Bể có hồ rộng khoảng 500 ha trên độ cao 178 m so với mặt nước biển. Đây là hồ tự nhiên trên núi duy nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam.
6. Lần đầu tiên tại Việt Nam, Lễ kỷ niệm Ngày Nước thế giới 2011 (22/3) với chủ đề “Nước cho phát triển đô thị” do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại tỉnh Ninh Thuận thu hút sự tham gia của hơn 3.000 người. Sự kiện này gây được tiếng vang lớn nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước.
7. Lần đầu tiên, Việt Nam tổ chức thành công Phiên họp Hội đồng lần thứ 17 của Ủy hội Sông Mê Công quốc tế (25 – 26/01/2011). Phiên họp đã thông qua nhiều Văn kiện quan trọng như Quy chế Chất lượng nước, Chiến lược Phát triển lưu vực dựa trên quản lý tổng hợp tài nguyên nước, Kế hoạch Chiến lược và Văn kiện của một số Chương trình then chốt của Ủy hội giai đoạn 2011-2015. Phiên họp có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh Hợp tác Mê Công đang phải đối mặt với những thách thức lớn của biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế và sự gia tăng sử dụng nước, đã định hướng cho một giai đoạn mới của Ủy hội Sông Mê Công quốc tế trong 5 năm tới.
8. Tuần lễ Quốc gia Biển và Hải đảo diễn ra tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa từ 5 đến 8/6/2011. Đây là sự kiện thường niên với quy mô cấp quốc gia nhằm tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tiềm năng của biển và hải đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Lễ khai mạc, lần đầu tiên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc.
9. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011. Chiến lược này xác định rõ tầm nhìn đến năm 2100, Việt Nam phấn đấu trở thành một quốc gia thịnh vượng, văn minh, phát triển bền vững với nền kinh tế cac-bon thấp, ứng phó thành công với biến đổi khí hậu và có vai trò quan trọng trong khu vực và thế giới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng có tầm nhìn “xuyên thế kỷ” trong cuộc chiến lâu dài ứng phó với biến đổi khí hậu.
10. Thành lập Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 19/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1430/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học thứ hai của ngành và là đại học chuyên ngành về lĩnh vực tài nguyên và môi trường trọng điểm phía Nam, đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường trong điều kiện mới.

SUY THOÁI NGUỒN TÀI NGUYÊN TỪ ÁP LỰC PHÁT TRIỂN

Áp lực phát triển đang làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên vùng Trung Trường Sơn – đó là đánh giá của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học-Tổng cục Môi trường thông qua Chương trình trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học, về tổ chức điều tra, khảo sát quá trình phát triển kinh tế-xã hội tại ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
Đây là các địa phương có nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học phong phú thuộc khu vực Trung Trường Sơn. 

Các hoạt động kinh tế-xã hội tại Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế trong 50 năm qua như phát triển thủy điện, mở rộng diện tích cây caosu, khai khoáng và săn bắt động vật, cháy rừng… đã và đang gây áp lực rất lớn đối với diện tích rừng thuộc Dự án Sáng kiến bảo tồn hành lang đa dạng sinh học nơi đây. 

Đặc biệt, hiện ở ba địa phương có tới 86 nhà máy thủy điện với tổng công suất 1.949 MW. Hầu hết hệ thống thủy điện đều nằm tại các huyện miền núi, nơi tập trung các loại rừng phòng hộ hoặc khu bảo tồn thiên nhiên. 

Các công trình xây dựng đập thủy điện dẫn tới mất rừng và ảnh hưởng đến môi trường nước làm tăng thêm nguy cơ đối với các khu rừng, không chỉ xảy ra xung quanh khu vực thi công mà cả diện tích lân cận, nơi tiến hành khảo sát địa hình, địa chất. 

Theo tính toán của các chuyên gia, thu hồi đất để xây dựng thủy điện đòi hỏi phải mất từ 5-7ha cho mỗi 1 MW. Như vậy, tổng số đất phải thu hồi phát triển thủy điện trong thời gian tới ở Quảng Nam sẽ là 4.900ha, Thừa Thiên-Huế 400ha và Quảng Trị 240ha. Do đó, các khu tái định cư cho các hộ dân phải di dời cần nhiều đất hơn nữa, sẽ tác động tiêu cực đến khu vực rừng gần đó, bởi phải cắt bớt diện tích rừng bổ sung cho sản xuất nông nghiệp.

Một trong những áp lực khá lớn nữa đối với tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học tại khu vực Trung Trường Sơn là phát triển diện tích cây caosu đang gia tăng nhanh chóng. 

Trong đó Quảng Trị có 16.289ha, Thừa Thiên-Huế 8.891ha, Quảng Nam 5.996ha và đều tập trung tại các địa bàn trung du và miền núi. 

Theo kế hoạch phát triển đến năm 2015, các trang trại caosu sẽ mở rộng với mục tiêu 20.000ha ở Quảng Trị, 13.000ha ở Quảng Nam và 10.500ha ở Thừa Thiên-Huế. Chưa kể gần 10.000ha cây càphê sẽ hình thành tại những khu đất chưa sử dụng chạy dọc theo đường Hồ Chí Minh. 

Cũng trong 10 năm qua, tổng diện tích rừng bị cháy và khai thác trái phép trên địa bàn ba tỉnh này gần 3.700ha, đang thu hẹp và suy giảm nhanh chóng chất lượng rừng. Đồng thời, hoạt động khai khoáng diễn ra hầu hết mọi nơi trong các huyện của ba tỉnh thuộc Dự án Sáng kiến bảo tồn hành lang đa dạng sinh học nơi đây. 

Tuy nhiên điểm nóng nhất là khai thác vàng trái phép không những gây mất rừng, suy thoái cảnh quan mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và trật tự xã hội, đã trở thành vấn nạn mà chính quyền địa phương khó có thể kiểm soát nổi.

Vì vậy, để giảm áp lực đang đe dọa đến sự suy thoái tài nguyên và đa dạng sinh học tại ba tỉnh nói trên, trước hết các cấp quản lý tại địa phương cần rà soát, điều chỉnh lại kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội bền vững và thân thiện với môi trường; cải tiến phương thức quản lý tài nguyên thiên nhiên theo hướng duy trì ổn định hệ sinh thái, ưu tiên cao nhất cho công tác phục hồi và phát triển rừng.

Mặt khác thực thi các chương trình bảo tồn quy mô lớn, đảm bảo mang lại lợi ích cho cả đa dạng sinh học và người dân địa phương./. 
 

Văn Hào (TTXVN/Vietnam+)

PHÁT TRIỂN NHIÊN LIỆU SINH HỌC VÌ MÔI TRƯỜNG

Trước dự báo trữ lượng dầu khí của Việt Nam chỉ đủ dùng trong 30-40 năm nữa, phát triển nhiên liệu sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đồng thời nâng cao thu nhập của nông dân ở vùng sâu, vùng xa.

>> Thành lập Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học VNTheo Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam, nhiên liệu sinh học (biofuel) là một ngành công nghiệp rất mới mẻ ở Việt Nam nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa quan trọng về phát triển nông thông, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, và hội nhập quốc tế.

Cần chính sách của Chính phủ

Dự báo trữ lượng dầu khí của Việt Nam chỉ đủ dùng trong khoảng 30-40 năm nữa. Bởi vậy nhiên liệu sinh học sẽ giúp bảo đảm trước mắt từ 5-10% lượng xăng tiêu thụ. 

“Phát triển nhiên nhiệu sinh học tại Việt Nam sẽ trở thành ngành thương mại ích nước lợi nhà, là ngành chắc chắn sẽ phải đi trong tương lai”, đại diện Nhà máy Mía đường Lam Sơn chia sẻ.  

Theo ông Nguyễn Phú Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ – Bộ Công thương, việc sử dụng nhiên liệu sinh học giúp đảm bảo đầu ra cho nông sản, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh năng lượng, và giảm nhập siêu.

Sản xuất nhiên liệu sinh học ở trong nước sẽ giảm việc xuất khẩu thô, đồng thời tạo điều kiện ổn định sản xuất nông nghiệp và đảm bảo đời sống nông dân, đặc biệt là nông dân trồng sắn thường là nông dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên khó khăn được ông Lưu Quang Thái, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam, đưa ra là xăng sinh học  tại Việt Nam hiện nay chưa phát triển được do va chạm các lợi ích nhóm. Vấn đề mấu chốt là Chính phủ phải đứng ra làm cha mẹ phân bổ những lợi ích đó.

“Phát triển nhiên liệu sinh học không thể nhanh và bền vững nếu không có các chính sách của Chính phủ mà điều này chỉ có Chính phủ mới làm được”, ông Thái thẳng thắn, “Nếu không có những chích sách của Chính phủ, việc phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam sẽ cực kỳ khó khăn.” 

Khó khăn về giá

Thực hiện đề án của Chính phủ, từ năm 2007 đến 2011, hàng chục doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nhiên liệu sinh học bao gồm nguồn vốn từ các khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Tổng số vốn đầu tư của Hiệp hội là 500 triệu USD và đến năm 2012 năng lượng sản xuất đủ để cung cấp cho xăng E5 (xăng chứa 5% Ethanol) trên cả nước.

Đề cập đến giá, đại diện Bộ Công thương nói thực tế sản phẩm thân thiện môi trường (nhiên liệu sinh học) khó rẻ hơn xăng ô nhiễm (nhiên liệu hóa thạch-E92).

“Nhiên liệu sinh học có ý nghĩa bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, chứ nói về giá thì không thể rẻ hơn nhiên liệu hóa thạch”, ông Cường thẳng thắn. 

Theo vị đại diện từ Hiệp hội, nhiên liệu sinh học phải có giá cạnh tranh thì mới sống nổi, cho nên trước mắt cần có chính sách hỗ trợ ở một giai đoạn nào đó. Còn về trung hạn thì phải có sản phẩm cạnh tranh thì mới nuôi dưỡng, phát triển lâu dài được.

Rõ ràng tiềm năng và cả lợi ích đều thấy rất rõ, tuy nhiên, việc phát triển ngành nhiên liệu sinh học ở Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

“Tôi cho rằng sự ra đời của Hiệp hội là thành công, sẽ hình thành nền công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.” Ông Nguyễn Phú Cường chia sẻ nhân Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam chính thức được thành lập mới đây. 

 

“Bốn năm qua Việt Nam đã đưa vài trăm người đi đào tạo ở các nước và trong nước chuyên ngành nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên để phát triển được, Việt Nam phải có vài nghìn người thì mới đảm bảo được kế hoạch, sản lượng như Chính phủ đã đề ra. Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam sẽ tham gia đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học”, ông Lưu Quang Thái.

 Trong đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2025” được Chính phủ phê duyệt vào năm 2007 nêu rõ: “Đổi mới cơ chế, chính sách về thuế, ưu tiên vay vốn và sử dụng đất đai để hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế đầu tư phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam”.
– Mỹ và  là hai nhà sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, chiếm tỷ lệ lần lượt là 57 và 28%. Các nước tiếp theo là Trung Quốc, Canada, Pháp, Đức, và Tây Ban Nha. 

– Về biodiesel, Châu Âu vẫn đứng đầu với 53% sản lượng toàn cầu trong năm 2010.

–  đang áp dụng chính sách bắt buộc dùng E5 (xăng pha 5% ethanol) và B2 (dầu pha 2% biodiesel). Có bốn tỉnh đã bắt buộc dùng E8.5. 

– Năm 2010, Trung Quốc có chín tỉnh bắt buộc tỷ lệ pha đến E10. 

–  đang bắt buộc dùng E3 và B2.5

– Thái Lan đã bắt buộc dùng E10 và B3 

– Tại Châu Á – Thái Bình Dương, dự kiến đến năm 2020 nhu cầu ethanol vẫn cao hơn cung, do các nước đang từng bước bắt buộc pha từ 5 đến 10% vào xăng. Dự kiến tỷ lệ tiêu thụ biodiesel tại Châu Á – Thái Bình Dương thấp hơn so với ethanol. Năm 2010, biodiesel  chiếm 1,6% tổng tiêu thụ dầu diesel. Tỷ lệ này sẽ tăng lên đến 3,4% vào năm 2015 và 4,7% vào năm 2020.